Ttv24h.vn

Những câu chuyện nóng hổi, ​​những tiêu đề tin tức mới nhất về thời sự, kinh doanh và giải trí từ Việt Nam.

OP-ED: Việt Nam đã làm được những gì mà chúng tôi không làm được?

OP-ED: Việt Nam đã làm được những gì mà chúng tôi không làm được?

Khi chúng ta tìm cách đa dạng hóa nền kinh tế và làm cho lĩnh vực sản xuất của chúng ta có thể cạnh tranh trên toàn cầu, tốt nhất là chúng ta nên nghiên cứu và học hỏi từ những gì Việt Nam đã làm.

Trong cột cuối cùng của tôiCâu chuyện đơn giản của những sản phẩm phức tạpTôi đã thảo luận rộng rãi về các lộ trình xuất khẩu hàng điện tử khác nhau từ Bangladesh và Việt Nam. Tôi đã sử dụng thiết bị điện tử làm ví dụ về một sản phẩm phức tạp và phức tạp nhưng có thể kể một câu chuyện tương tự bằng cách sử dụng các sản phẩm khác làm ví dụ. Tóm lại, vào năm 1995, tổng thu nhập xuất khẩu từ điện tử của Bangladesh tương đương với Việt Nam, cả về giá trị tuyệt đối (khoảng 30 triệu USD) hay tỷ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu (dưới 1%). Hiện gần 40% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đến từ hàng điện tử trong khi tỷ trọng tương ứng của Bangladesh vẫn ở mức dưới 1%. Điều gì giải thích cho thành công to lớn của Việt Nam và Bangladesh có thể học được gì từ điều đó? Việt Nam đã làm được gì mà chúng ta không làm được?

Phát triển một ngành công nghiệp điện tử cạnh tranh toàn cầu cần ít nhất bốn điều. Những kỹ năng đầu tiên. Việc 10% phần mềm của Samsung trên quy mô toàn cầu được phát triển bởi các kỹ sư CNTT Việt Nam là minh chứng cho kỹ năng kỹ thuật sẵn có ở Việt Nam. Trung tâm R&D lớn nhất Đông Nam Á của Samsung được đặt tại Hà Nội và sử dụng hơn 1.500 công nhân Việt Nam có tay nghề cao. Tuy nhiên, người Việt Nam cảm thấy họ thiếu kỹ năng và quan tâm đến việc giải quyết vấn đề này.

Cần lưu ý rằng không chỉ đào tạo về học thuật trong các ngành liên quan là quan trọng mà còn là nhận thức và kỹ năng mềm cần thiết để một nhân viên có thể tận dụng tối đa chương trình đào tạo tại chỗ mà các công ty cung cấp. Các công ty không mong đợi nhân viên có tất cả các kỹ năng cần thiết nhưng họ đánh giá cao khả năng đào tạo.

READ  Bamboo Airways các chuyến bay đến Hoa Kỳ - AirlineGeeks.com

Yếu tố quan trọng thứ hai là một hệ thống thương mại quốc tế năng động và cởi mở. Sản xuất các sản phẩm điện tử đòi hỏi hàng chục, và thường là hàng trăm linh kiện khác nhau, hầu hết trong số đó phải có nguồn gốc từ nước ngoài. Bất kỳ quốc gia nào có hệ thống thương mại mở và mạng lưới thương mại lớn đều có thể tiếp cận các nguồn linh kiện đa dạng và hưởng lợi từ việc nhập khẩu hàng hóa trung gian rẻ hơn, do đó nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu.

Trong những năm qua, Việt Nam đã tham gia nhiều hiệp định thương mại khu vực và toàn cầu, như Hiệp định khu vực mậu dịch tự do của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) (AFTA) năm 1996, Hiệp định thương mại song phương giữa Hoa Kỳ và Việt Nam (US-BTA) trong 2000, và Tổ chức Thương mại Toàn thế giới (WTO) vào năm 2006, và Hiệp định Đối tác Toàn diện Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CP-TPP) vào năm 2017. Việt Nam cũng đã ký các hiệp định thương mại tự do song phương với một số quốc gia trong hai thập kỷ qua và hơn thế nữa là trong đường ống dẫn. Điều này trái ngược hẳn với chế độ Bangladesh, chế độ thương mại vẫn bị hạn chế, mặc dù đã có một số tự do hóa trong những năm qua.

Yếu tố thứ ba là vai trò xúc tác của đầu tư nước ngoài. Các nhà đầu tư nước ngoài mang đến những kỹ năng kỹ thuật, thương hiệu và khả năng tiếp cận thị trường cần thiết để xuất khẩu hàng điện tử. Biểu đồ dưới đây cho thấy chúng tôi đã làm điều này như thế nào so với Việt Nam. Cho đến cuối những năm 1980, chúng ta đã ngang bằng với Việt Nam vì dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào cả hai nước đều chiếm một tỷ lệ nhỏ trong GDP. Kể từ đó, tình hình ở Bangladesh đã được cải thiện, nhưng chỉ ở mức độ nhẹ; Dòng vốn FDI vẫn chưa đến 2% GDP. Trong khi đó, khi Việt Nam mở cửa nền kinh tế, việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được đặc biệt chú trọng. Trong khi tỷ lệ này dao động, ngay cả khi chúng ta lấy đường trung bình động ba năm như thể hiện trong biểu đồ, rõ ràng là người Việt Nam đã tiến bộ trên mặt trận đó. Kể từ đầu những năm 1990, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào nước này hàng năm đạt trung bình 6% GDP.

READ  Người tạo ra Dogecoin đã bán tất cả số tiền của mình với giá chỉ đủ để cung cấp cho một chiếc Honda Civic đã qua sử dụng vào năm 2015 - hiện là DOGE lớn hơn Honda - Honda Motor Company (HMC)

Tại Việt Nam, các công ty nước ngoài đóng góp tới 70% tổng kim ngạch xuất khẩu, với tỷ trọng xuất khẩu điện tử cao hơn nhiều. Samsung là một trong những công ty có vốn đầu tư nước ngoài lớn trong lĩnh vực điện tử tại Việt Nam. Công ty Hàn Quốc đầu tư vào Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1996 để sản xuất ti vi màu cho thị trường trong nước. Sự hiện diện của nó đã mở rộng đáng kể vào năm 2009 sau khi đầu tư 670 triệu đô la vào một nhà máy sản xuất điện thoại di động định hướng xuất khẩu ở phía bắc tỉnh Pak Ninh. Tính đến cuối năm 2017, Samsung đã đầu tư 14 tỷ USD và tạo việc làm cho hơn 100.000 người Việt Nam. 30% sản lượng di động toàn cầu của Samsung đến từ Việt Nam và riêng công ty đã chiếm gần 25% tổng xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam. Vì Samsung, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu điện thoại thông minh lớn thứ hai trên thế giới. Trong khi đó, Intel đã mở cơ sở lắp ráp và kiểm tra chất bán dẫn trị giá hàng tỷ USD tại TP.HCM, đặt Việt Nam vững chắc trên bản đồ công nghệ toàn cầu.

Câu chuyện về sự hiện diện của Samsung tại Việt Nam đặc biệt đúng với chúng tôi. Khoảng một thập kỷ trước, công ty muốn đầu tư thời gian đáng kể vào Bangladesh. Chúng tôi không thể chứa chúng. Sở dĩ nói đến yếu tố quan trọng thứ 4 trong sự phát triển của ngành công nghiệp điện tử, đó là quỹ đất có diện tích lớn.

READ  Thu nhập của Twitter vượt qua kỳ vọng. Tại sao cổ phiếu lại giảm?

Như chúng tôi đã đề cập ở trên, các công ty điện tử cần rất nhiều linh kiện không phải sản xuất trong nước mà có nguồn gốc từ nước ngoài, một số thông qua nhập khẩu và một số thông qua các nhà cung cấp trong nước. Lý tưởng nhất là các công ty muốn những nhà cung cấp này ở gần họ vì lý do hậu cần và đảm bảo chất lượng. Do đó, các nhà đầu tư nước ngoài trong ngành công nghiệp điện tử thường yêu cầu những khu đất rộng, đủ lớn để bố trí các nhà máy của họ và của các nhà cung cấp của họ. Việc không cung cấp một lượng đất lớn như vậy là lý do lớn khiến Samsung rời bỏ chúng tôi và thay vào đó chọn mở rộng đầu tư tại Việt Nam.

Khi chúng ta tìm cách đa dạng hóa nền kinh tế và làm cho lĩnh vực sản xuất của chúng ta có thể cạnh tranh trên toàn cầu, tốt nhất là chúng ta nên nghiên cứu và học hỏi từ những gì Việt Nam đã làm. Một lần nữa, các nhà đầu tư nước ngoài vào Bangladesh quan tâm. Nhưng chúng ta cần linh hoạt để nắm bắt những cơ hội này. Nếu làm được, chúng tôi có thể kể câu chuyện Việt Nam của chính mình. Nếu không, tất cả những gì chúng ta có thể kể cho các cháu của mình sẽ là những câu chuyện về Samsung, những người đã để lại cho chúng ta những đồng cỏ xanh tươi hơn.

Tác giả là một nhà kinh tế, trước đây làm việc cho một cơ quan phát triển quốc tế