Ttv24h.vn

Những câu chuyện nóng hổi, ​​những tiêu đề tin tức mới nhất về thời sự, kinh doanh và giải trí từ Việt Nam.

Nông nghiệp Việt Nam nhờ EVFTA

Tuy nhiên, những thách thức này là đòn bẩy quan trọng giúp ngành nông nghiệp của đất nước trưởng thành hơn trong quá trình hội nhập, dựa trên việc thúc đẩy tái cơ cấu bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm và cải tiến quy trình chuyên sâu hướng tới một hệ thống canh tác hữu cơ và hiện đại.

Thúc đẩy lĩnh vực thực hiện

EVFDA là Hiệp định Thương mại Tự do (FDA), có cam kết cao nhất đối với Việt Nam trong số tất cả các Hiệp định FDA đã ký kết từ trước đến nay, với hơn 99% dòng thuế nhập khẩu giữa hai bên 7-10 được xóa bỏ trên lộ trình hàng năm. Đặc biệt, thuế suất áp dụng đối với nhiều mặt hàng nông sản có lợi cho Việt Nam trong sản xuất và xuất khẩu như gạo, thủy sản, cà phê, ca cao sẽ được giảm ngay hoặc trong ngắn hạn.

Hiện EU chiếm 8,4% tổng kim ngạch nhập khẩu nông, lâm, thủy sản. Do đó, các mặt hàng nông lâm thủy sản của Việt Nam vẫn còn nhiều dư địa để tăng trưởng xuất khẩu vào thị trường này.

Tuy nhiên, châu Âu ưa chuộng các sản phẩm chế biến, do đó, để tăng lượng hàng hóa và thu nhập xuất khẩu, ngành nông nghiệp cần tập trung phát triển mạnh công nghiệp chế biến ngay từ khi mới đến. Đặc biệt, các sản phẩm trái cây nhiệt đới của Việt Nam rất được chào đón ở châu Âu, nhưng khoảng cách địa lý gây khó khăn cho việc vận chuyển và bảo quản sản phẩm mới.

Vì vậy, việc phát triển công nghệ bảo vệ và chế biến sau thu hoạch là “chìa khóa vàng” giúp trái cây Việt Nam thâm nhập thị trường EU, nhất là trong bối cảnh hàng rau quả chế biến từ Việt Nam sang EU đang áp thuế 85,6%. Giảm xuống 0% khi EVFTA có hiệu lực.

Tuy nhiên, hiện nay, xuất khẩu rau quả chế biến của Việt Nam chỉ chiếm chưa đến 19% tổng giá trị xuất khẩu rau quả, nên nếu không tăng nhanh, ngành rau quả sẽ mất một tỷ trọng thuế đáng kể. lợi ích do EVFDA cung cấp.

Theo ông Tin Kao Ku, Chủ tịch Hội đồng quản trị của Sở Giao dịch Chứng khoán Xuất khẩu Thực phẩm Đông Kiao, hiện có hơn 150 công ty chế biến rau quả quy mô công nghiệp với tổng công suất hơn 1 triệu tấn / năm, khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo còn nhỏ lẻ, chỉ đạt khoảng 5-10%, trong khi hiệu suất sử dụng công suất thiết kế bình quân chỉ đạt 56,2%.

Trong khi đó, chế biến đóng vai trò rất quan trọng trong nông nghiệp. Không chỉ đáp ứng thị hiếu của người tiêu dùng châu Âu mà các sản phẩm chế biến, đặc biệt là trái cây đã qua chế biến có thời hạn sử dụng lâu hơn nên tránh được tình trạng thất thoát khi không xuất khẩu được. Điều này được chứng minh rõ ràng nhất trong thời gian cao điểm phun trào COVID-19, khi việc xuất khẩu trái cây tươi trở nên tắc nghẽn, nhưng các sản phẩm chế biến vẫn được xuất khẩu ổn định hơn, điều này được hoan nghênh mạnh mẽ do lo ngại rằng người tiêu dùng trên toàn thế giới sẽ sử dụng các sản phẩm mới.

READ  Bên trong sự phát triển ấn tượng của đường hàng không tre Việt Nam

Cùng với trái cây, gạo, thủy sản, hạt tiêu, hạt điều và gỗ phải đối mặt với nhu cầu chế biến sâu để tăng sản lượng và giá trị xuất khẩu vào thị trường EU. Trên thực tế, xuất khẩu các sản phẩm gỗ có khả năng tăng trưởng mạnh hơn nếu ngành công nghiệp chế biến trở nên thành thạo hơn. Tuy nhiên, hiện nay, sản phẩm gỗ trồng tại địa phương vẫn còn khan hiếm, chủ yếu giúp khai thác cây non để sản xuất nguyên liệu giấy, dăm gỗ và các loại hạt.

Trong khi đó, gỗ lớn tập trung chủ yếu ở vùng núi phía Bắc và duyên hải miền Trung, nhưng lại có rất ít nhà máy chế biến ở những vùng này nên sản lượng đồ gỗ tinh chế còn rất hạn chế, chưa kể hầu hết các công ty chế biến gỗ Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ quy mô dưới 500 m3 / năm. Chỉ 47% doanh nghiệp có kỹ năng thiết kế cây gỗ tròn.

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nông sản hiện nay vẫn là sản phẩm sơ cấp có giá trị gia tăng thấp, 70-85%, trong khi sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng cao chỉ từ 15-30%. Đặc biệt, công nghệ chế biến còn lạc hậu, tỷ lệ đổi mới thiết bị của các cơ sở chế biến chỉ đạt 7% / năm.

Vì vậy, EVFDA, với nhu cầu cao đối với các sản phẩm chế biến sâu, đã trở thành động lực tuyệt vời cho các doanh nghiệp trong nước phát triển nguồn nguyên liệu bền vững và đổi mới công nghệ chế biến để đa dạng hóa sản phẩm đáp ứng nhu cầu của thị trường châu Âu. Từ đó hình thành các cụm liên kết sản xuất, bảo quản, chế biến và tiêu thụ nông sản, kết hợp với tập trung nguyên liệu, tạo ra và bảo đảm an toàn thực phẩm, lao động và mọi yếu tố để tạo ra sản phẩm chất lượng như nhau. Môi trường, theo các nghĩa vụ trong EVFDA.

Thúc đẩy canh tác hữu cơ

Hiện nay, thị trường toàn cầu cho các sản phẩm nông nghiệp hữu cơ đạt khoảng 120 tỷ USD, một nửa trong số đó là thị trường châu Âu. Châu Âu là quốc gia tiêu thụ sản phẩm hữu cơ lớn nhất trên thế giới, với các loại hạt, gia vị và trái cây hữu cơ hiện đang là sản phẩm Việt Nam được Liên minh Châu Âu ưa chuộng nhất. Theo văn phòng trực tuyến của các thương vụ Việt Nam tại Bỉ, Luxembourg và EU, năm 2019, EU nhập khẩu 3,24 triệu tấn nông sản hữu cơ, tăng 0,4% so với năm 2018. Sản phẩm nông nghiệp hữu cơ chiếm khoảng 2% tổng lượng nông sản nhập khẩu vào EU, đặc biệt là sản phẩm chế biến, chiếm 15% tổng giá trị so với nguyên liệu thô. Trong đó, trái cây nhiệt đới, các loại hạt và gia vị là những sản phẩm hữu cơ được nhập khẩu nhiều nhất vào EU trong năm 2019, chiếm 27% (0,9 triệu tấn) tổng nhập khẩu hữu cơ.

READ  3 người chết, nghi ngờ cướp thuyền Hàng chục người bị thương gần San Diego: NPR

Vì vậy, khi EVFDA có hiệu lực đã mở ra cánh cửa cho ngành nông nghiệp hữu cơ của Việt Nam, mang đến cơ hội “có một không hai” cho sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của các sản phẩm hữu cơ nhằm đáp ứng tốt hơn các yêu cầu về chất lượng sản phẩm của thị trường EU. Đồng thời, nó sẽ làm gia tăng các nước đối thủ, đặc biệt là đối với gạo, tôm, trái cây và gia vị. Sản phẩm nông nghiệp hữu cơ phải đáp ứng nhiều yêu cầu khắt khe, nhưng thay vào đó, giá trị xuất khẩu của chúng rất cao. Ví dụ, gia vị quế hữu cơ, tại thị trường EU, có giá cao hơn 1.000 USD so với một tấn quế thông thường.

Theo tính toán chung, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hữu cơ sẽ giúp tăng giá trị nông sản Việt Nam gấp 1,5-1,8 lần so với sản xuất thông thường. Để hiện thực hóa giá trị đó, NUN Nu Kwang, Cục trưởng Trồng trọt của Bộ NN & PTNT, cho rằng nông nghiệp Việt Nam cần phải thay đổi nhanh chóng từ phương thức sản xuất truyền thống sang nông nghiệp bền vững, bao gồm cả tài nguyên nước và đất, và sử dụng các sản phẩm nông nghiệp như phân bón và thuốc trừ sâu. Đầu óc của các nhà quản lý, doanh nghiệp và nông dân cũng cần được “làm mới” hoàn toàn. Thay vì chạy theo sản xuất, cần ưu tiên chất lượng và gia tăng giá trị cho nông sản.

Có thể cảm nhận được những thay đổi này vì vào cuối tháng 6 năm 2020, chính phủ đã phê duyệt Kế hoạch phát triển nông nghiệp hữu cơ giai đoạn 2020-2030. Trong đó, đặt mục tiêu đến năm 2025, diện tích đất canh tác sản xuất hữu cơ đạt 1,5-2% tổng diện tích đất canh tác; Diện tích đất canh tác hữu cơ chiếm hơn 1% tổng diện tích đất canh tác, tập trung vào các loại cây chủ lực như lúa, rau các loại, cây ăn quả, chè, hồ tiêu, cà phê, điều, dừa; Diện tích nuôi cá hữu cơ bằng 0,5-1,5% tổng diện tích nuôi trồng thủy sản. Tất cả những mục tiêu này đang giúp đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng đối với các sản phẩm hữu cơ từ Liên minh Châu Âu và các quốc gia khác trên thế giới.

READ  Các hợp chất tuân thủ, không tuân thủ Thảm kịch mới của Chính phủ Việt Nam

Thứ trưởng Bộ NN & PTNT Tròn cũng đánh giá, chúng ta cũng đang có xu hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ, sẽ phát triển nhanh trong tương lai nên Việt Nam phải quyết tâm xây dựng nền nông nghiệp hữu cơ có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước phát triển. Theo đó, nhằm thúc đẩy đào tạo cán bộ quản lý, kiểm tra, giám sát các tổ chức chứng nhận sản phẩm nông nghiệp hữu cơ từ nội các Việt Nam đến địa phương. Ngoài ra, các lớp đào tạo, tập huấn cho các doanh nghiệp, nhà sản xuất, kinh doanh sản phẩm hữu cơ cũng được triển khai nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực này.

Mặc dù EVFDA chỉ có hiệu lực trong thời gian rất ngắn nhưng có thể thấy nó đã tạo ra những “làn sóng” thay đổi tích cực mới cho toàn ngành nông nghiệp Việt Nam. Mặc dù vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức với mong muốn vượt qua những trở ngại này, nhưng những kỳ vọng to lớn đối với nền nông nghiệp nước nhà từ EVFDA sẽ sớm được thực hiện.

Theo Bộ NN & PTNT, năm 2019, cả nước đã xuất khẩu 150.000 tấn nông sản hữu cơ sang châu Âu. Đây là con số khá khiêm tốn so với nhu cầu thị trường hơn 3 triệu tấn chất hữu cơ / năm, để nông sản hữu cơ của Việt Nam có chỗ đứng đáng kể vào thị trường EU. Với sự tham gia của gần 20.000 nông dân tại 46 tỉnh, thành phố, đến nay đã có 240.000 ha đất nông nghiệp hữu cơ. Ngoài ra, khoảng 160 công ty sản xuất và kinh doanh các sản phẩm hữu cơ, với doanh thu xuất khẩu hàng năm khoảng 335 triệu USD. Sản phẩm nông nghiệp hữu cơ của Việt Nam được xuất khẩu sang 180 quốc gia trên thế giới, trong đó có một số thị trường được lựa chọn như Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Nga và Singapore.